Chiêm Thành Tự Làm Vong Quốc (????)

Chiêm Thành Tự Làm Vong Quốc
(sưu tầm)

https://i1.wp.com/www.quangduc.com/photo/nhatrang/thapba-1.jpgDù viết gì chăng nữa, thì nước Chiêm Thành suốt dòng lịch sử đã chắc chắn có một lãnh thổ gồm các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô và Châu Lý (nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên). Vùng Amaravati với kinh đô Indrapura (Đồng Dương) cùng các thánh tích nổi tiếng tại Mỹ Sơn và Trà Kiệu (Simhapura). Miền này nay thuộc Quảng Nam và Quảng Ngãi. Vùng Vijaya với kinh đô Chà Bàn, nay là tỉnh Bình Định. Vùng Kauthara có thánh tích Po Nagar (Tháp Bà), nay là Khánh Hòa. Châu cuối là Panduranga, bao gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.

 

Người Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất giấy.

 

Đó cũng vì tất cả quyền lực trong nước đều là độc quyền của một nhóm thiểu số, thuộc giai cấp quý tộc và tăng lữ Bà La Môn cùng Hồi giáo nắm giữ. Ở đây không nói tới nhóm sắc tộc bị trị tại cao nguyên Trung phần từ năm 1150-1471, mà chỉ đề cập tới người Chàm, là sắc dân chính thống của vương quốc sống dọc vùng duyên hải. Do tính chất đa sắc tộc và trở ngại địa lý, nên nước Chiêm Thành gần như không bao giờ thực hiện được trọn vẹn chính sách trung ương tập quyền, dù trên lý thuyết đã hợp nhất thành một nước nhưng thực tế những sắc tộc lại chia thành thị tộc, các làng đầy dị biệt và thường đem quân bản địa tàn sát lẫn nhau, không ai cản được.

 

Tìm hiểu lịch sử Chiêm Thành thật nhiêu khê vì tất cả một chuỗi dài lịch sử phải nối khoen bằng những tài liệu vụn vặt góp nhặt từ những ghi khắc trên bia ký còn trong đền tháp, qua những huyền thoại truyền khẩu dân gian và mớ sử liệu hỗn tạp loạn ngầu trong các sách sử của những quốc gia liên hệ như Đại Việt, Trung Hoa, Chân Lạp, Mã Lai. Người Pháp sau này cũng từ những nguồn gốc trên mà đặt ra giả thuyết để ước đoán một sự kiện bị chìm đắm theo những kẻ nắm quyền đã ngủ yên trong mồ.

 

Một dân tộc rất giỏi nghề đi biển và cũng từng là những hải tặc khét tiếng suốt vũng biển Thái Bình Dương cho tới vịnh Thái Lan. Trong nước ruộng đất bề bề, đã có kỹ thuật canh tác và biết lập hệ thống dẫn điền, có nền tiểu công nghệ tiến bộ và hữu ích trong đời sống hằng ngày như làm gốm, dệt chiếu vải, đan, điêu khắc và xây cất nhà cửa, dinh thự, đền đài.

 

 

Vậy vì sao nước Chiêm Thành phải suy thoái và diệt vong? Một câu hỏi cần phải làm sáng tỏ để tránh những ngộ nhận cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong một quốc gia hợp chủng VN.

 

Như ta biết, cộng đồng dân tộc (communauté), theo định nghĩa pháp lý, thì đó là một xã hội có nhiều người cùng nhau chia xẻ một thân phận trong mọi hoàn cảnh, dù là ý thức hay vô ý thức. Đất nước nào trên thế giới xưa nay cũng bao gồm nhiều cộng đồng xã hội khác nhau, nhưng lại cùng sống trong một lãnh thổ, tạo thành cấu trúc bất khả phân của một quốc gia và theo pháp lý, tất cả các cộng đồng này đều bình đẳng về quyền lợi cũng như trách nhiệm, bổn phận. Trên bình diện quốc gia lại duy nhất chỉ có một dân tộc mà thôi.

 

Cho nên không thể gọi người Chàm, người Hoa, người Khmer hoặc các bộ tộc vùng cao là dân tộc thiểu số như chúng ta đã lạm dùng sai sót trong quá khứ và VC đang sử dụng để mị dân. Theo đúng nghĩa của phương tây, danh từ Dân Tộc (nascere), đã được Isodore de Séville, sống trong thế kỷ thứ VII (STL), định nghĩa là một cộng đồng sắc tộc gồm những nhóm người có chung nguồn gốc, hay nhiều nhóm khác nhau qua thời gian pha trộn đã cùng sinh hoạt chung trên một mảnh đất nhất định. Sau này danh từ Dân Tộc được đồng nghĩa với Tổ Quốc (Patria) để gọi tất cả mọi người đang sống chung trên một lãnh thổ.

 

Tóm lại Dân Tộc VN ngày nay có ba họ chủng tộc khác nhau cấu thành. Đó là người Kinh, người Hoa và tập hợp những sắc tộc miền cao, kể cả người Chàm và Khmer ở Nam Phần.

 

Hội nhập và đồng hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Ngoại trừ người Thượng Bắc phần hay Cao nguyên Trung phần từng được chính quyền VN bao đời coi như dân bản địa. Các sắc dân Chàm, Khmer và Minh Hương đã hội nhập trong dân tộc VN nhưng không hề bị đồng hóa, như một vài người mang thù hận truyền kiếp đã cố tình bóp méo vấn đề bằng cách viết nói lẫn lộn để cho người khác phải hiểu sai, rồi kết luận người VN bao đời đều dùng chính sách đồng hóa để phát triển cộng đồng.

 

Từ những dẫn chứng thực tại của quốc gia hợp chủng VN mà quyền hành bao đời vẫn theo trung ương tập quyền dù triều đình, chính phủ, nhà vua có đóng ở Thăng Long, Thuận Hoá hay Gia Định; tất cả cũng đều do lệnh vua ban truyền tuy nói chơi “lệ làng hơn phép vua”.

 

Nhưng Chiêm Thành thì sao? Vẫn có tập quyền nhưng chỉ thu gọn trong một thiểu số làng mạc cùng chung thị tộc hay gần gũi với chính quyền mà thôi. Điều này cũng đâu lạ, vì Chiêm Thành ảnh hưởng sâu đậm Ấn Độ giáo cũng như phỏng theo nền chính trị của nước này. Bởi vậy xã hội Chàm gồm bốn giai cấp: Brahman (tăng lữ Bà La Môn), Kshatriya (quý tộc), Vaishya (thường dân bao gồm thương gia, điền chủ, những người giàu có) và Shudra (tiện dân).

 

Ngoài ra vì là một dân tộc hợp chủng nhưng thay vì chịu chấp nhận là một dân tộc duy nhất Chiêm Thành để phục vụ cho tổ quốc, người Chiêm do tính chất cách biệt địa lý, nguồn gốc, ngôn ngữ, nên họ đã coi lệ làng hơn phép nước trong mỗi sắc tộc, thị tộc riêng lẽ. Chỉ riêng người Chàm cũng đã chia rẽ gay gắt, nhất là giữa hai thị tộc mạnh nhất Cây Cau (Kramukavamca) thống trị miền nam tại 2 châu cũ chiếm của Phù Nam là Kauthara và Panduranga. Còn thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở phiá bắc tại châu Indrapula.

 

Do trên ta có thể khẳng định là các bộ tộc sinh sống trên cao nguyên, trong đó có người Churu, Roglai, Rhadé và Jara. Tuy cùng sử dụng chung ngôn ngữ Malayo-Polynésien với người Chàm nhưng luôn luôn tự trị, chống đối Chiêm Thành, kể cả ba thế kỷ bị đô hộ.

 

Nói chung nội bộ nước Chiêm Thành luôn luôn ẩn chứa những mầm phản loạn, và vì vậy khi vua chúa nào bị thua trận hay thất sủng là bị quyền thẩn giết ngay để dành ngai vua và đất nước, kể cả vị vua anh hùng nhất của nước này là Chế Bồng Nga, cũng không được ngoại lệ. Tình trạng mạnh được yếu thua này rất phổ quát trong thời phong kiến và quân chủ, ngay tại Trung quốc và Đại Việt cũng từng có nhưng chỉ là họa hoằn, chứ không gần như là cơm bữa tại quốc gia này.

 

Trong thượng tầng kiến trúc chính quyền, trung tâm đầu não của quốc gia, thời nào cũng chỉ dành riêng cho thiểu số tăng lữ và quý tộc nhưng họ luôn chỉ nghĩ tới quyền lợi của dòng họ và tộc đẳng mình mà thôi. Chiếm tỷ lệ dân số đông đảo trong nước vẫn là hai thành phần thường dân và tiện dân, nhưng họ chỉ là những công cụ của thiểu số cầm quyền; phải đi lính, sản xuất, xây cung điện, đền đài khắp nơi để thờ phụng đủ thứ thần linh trong nguồn tín ngưỡng mà vua chúa chấp nhận.

 

Thay vì dùng nguồn lợi của quốc gia để lo cho đời sống dân chúng, cải tiến nhân sinh xã hội, đem nền văn minh văn hiến của dân tộc thu nhập, phổ biến, giáo dục cho mọi người, mọi thế hệ để họ cùng mở mang kiên thức, thăng tiến trong dòng văn minh lịch sử nhân loại để ai cũng có quyền lợi hưởng và nhận chịu trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, cần tới.

 

Nhưng Chiêm Thành thì hoàn toàn đi ngược lại, tiền bạc chỉ dùng để xây kinh đô, thánh địa, mua sắm quân cụ vũ khí để đánh nhau. Bắt dân đi lính không phải để bảo vệ tổ quốc, mà là giúp vương triều mở rộng lãnh thổ, thu chiến lợi phẩm cùng tù binh, tạo thêm ưu thế cho tộc đẳng đương quyền.

 

Bởi vậy, dân chúng trong nước chỉ thấy mình làm nô lệ cho vua quan mà thôi, chứ khồng hề nghĩ tới dân tộc, tổ quốc, nên khi có chuyện thì bỏ chạy và ít lo tới chế độ mình đang hiện hữu.

 

Đây chính là nguyên nhân nội tại, khiến Chiêm Thành bị suy thoái vì chia rẽ sắc tộc, thế cấp và rắn mất đầu mỗi khi có biến loạn, mà lần cuối cùng vào thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tôn chiếm kinh đô Chà Bàn, chia ba Chiêm quốc, khiến cho giới tri thức, khoa bảng lãnh đạo bị tan rã vì chết, trốn ra ngoại quốc, trong nước thiếu nhân tài để tiếp tục lèo lái con thuyền quốc gia đang trong cơn bão tố, sóng dữ sắp chìm.

 

Cũng phải nói tới thể diện con người, ta biết người Chàm theo chế độ mẫu hệ, quyền hạn trong gia đình đều do phụ nữ chi phối và nắm giữ, người đàn ông luôn cảm thấy mình mất tự do. Ngoài xã hội, tuyệt đại dân chúng thuộc giai cấp tiện dân, bị áp bức bóc lột. Nên gặp lúc được tự do, ho đã dễ dàng hướng ngoại, làm cho đất nước càng lúc càng thiếu nhân lực.

 

Trong nước lúc nào cũng có chiến tranh, đất ruộng vườn tược giao phó cho đàn bà và những người lớn tuổi nên họ làm sao kham nổi, bởi vậy lãnh thổ hầu hết như bị bỏ hoang. Ngân sách, tài nguyên đều dùng để xây cất cung điện, thánh tích và quân sự.

 

Những lần thắng trận thì lấy chiến lợi phẩm đã cướp để bù đắp hoặc tổ chức những đám cướp biển. Nhu cầu này cũng cạn kiện dần mòn khi đế quốc Hồi giáo hùng mạnh, khống chế toàn bộ con đường tơ lụa trên Ấn Độ Dương và biển Đông, đã bị các nước phương tây làm sụp đổ. Từ đó quyền lợi kiếm được từ nguồn hải khấu của Chiêm Thành cũng chấm dứt, vì thuyền nước này nhỏ bé, vũ khí lại thô sơ, làm sao chọi nổi với thương thuyền to chắc của Bồ, Y Pha Nho, Pháp, Anh Cát Lợi, Hòa Lan… có trang bị hỏa lực hùng hậu.

 

Về những trách móc, thù hận hay dư luận cho rằng Đại Việt tiêu diệt Chiêm Thành để cướp nước, qua hiện tượng biểu kiến của cuộc Nam Tiến. Sự kiện này ngày nay đã được giải tỏa ẩn ức, không phải do người Việt Nam tự biện bạch để chạy tội, mà chính là những trang lịch sử còn lưu lại của các nước Đông Nam Á, có liên hệ tới Chiêm Thành.

 

Nói theo kinh Phật, thì tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng nuôi hận thù trong tâm nên thường đem quân khi thì đường bộ, lúc dùng thuyền bè, tấn công hết nước này tới xứ khác, và ngược lại họ cũng phải bị nạn nhân trả thù, chống chọi để giữ mạng, giữ nước.

 

Với Phù Nam thì cướp hai châu và tấn công luôn Chân Lạp, tàn phá Đế Thiên, Đế Thích (Angkor Wat, Angkor Thom) vào năm 1177 bởi vua Chàm là Jaya Indravarman IV. Sau đó Chân Lạp phản công, đô hộ Chiêm Thành, cũng tàn phá hết các công trình xây dựng từ kinh đô cho tới thánh tích. Tháp Bà Po Nagar tại Kauthara bị Chân Lạp phá huỷ nhiều lần, cho tới khi châu này thành tỉnh Khánh Hòa của Đại Việt vào thế kỷ thứ XVII mới được người di dân VN bảo quản và giữ gìn cẩn trọng cho tới hôm nay.

 

Ngoài ra, Chiêm Thành cũng bị người Tàu tàn phá hai lần vào năm 605 và 1282, người Nam Dương cướp phá vào các năm 774, 787 nhưng tàn bạo nhất vẫn là những sự trả thù dã man của Chân Lạp trên đất Chiêm Thành vào những năm 950, 1190 và thời gian chiếm đóng từ 1203-1220.

 

Nói chung theo sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa, suốt dòng lịch sử luôn tấn công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không còn lựa chọn nào hơn là phải chống lại để tự vệ và giữ nước.

 

Gây hấn rồi nhường đất chuộc mạng, bắt đầu từ thời vua Chế Củ dâng nhà Lý ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, được các sử gia coi đó là một sự kiện lịch sử quan trọng của Chiêm Thành, mở đường cho vua chúa Đại Việt sau này coi đó như một yếu tố tất thắng đối với kẻ chiến bại.

 

Trong 30 năm cầm quyền, Chế Bồng Nga năm nào cũng đánh phá chém giết người Việt tận tuyệt, luôn cả kinh thành Thăng Long cũng bị tàn phá trong ba lần lửa máu. Bởi vậy khi Chàm suy yếu, Đại Việt lại trả thù phục hận. Đó cũng là nguyên cớ đã khiến cho các triều đại VN về sau tỉnh ngộ, quyết ngăn chận Chiêm Thành để không còn xảy ra tai họa khủng khiếp trong dĩ vãng.

 

Về cuộc Nam Tiến cũng được thi hành ôn hòa qua kế hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương mễ theo đường lối “ngụ binh ư nông” mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ khi thu hồi được độc lập.

 

Tóm lại, Chiêm Thành suốt 17 thế kỷ trường tồn chỉ chú trọng nền ngoại thương, lại coi thường nông nghiệp. Mặt khác chính quyền Chàm lại không có kế hoạch phòng thủ khi bế tắc, nên lúc việc buôn bán với nước ngoài không còn thuận lợi, muốn quay lại nông nghiệp thì đã muộn màng.

 

Ngoài ra cái thời người Chàm cứ bỏ đất hoang để dân Việt tới khai phá gây dựng, rồi họ trở lại tấn công đoạt lại hay để kiếm lương thực và chiến lợi phẩm, cũng đã cáo chung vì từ thế kỷ thứ XVI, khi Nguyễn Hoàng vào tọa trấn Thuận Quảng, ngoài việc xây dựng một quân đội hùng mạnh, còn thành lập những xã thôn trù phú nơi biên thùy, vừa là tiền đồn cũng là tiền dinh ngăn chặn các cuộc tấn công. Rốt cục chiến tranh có xảy ra, cũng chỉ gây tang tóc cho cả hai bên mà thôi và càng tạo thêm cớ để Đại Việt nam tiến mà thôi.

 

Qua dòng lịch sử nước nhà, hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói tới sự tàn ác dã man của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm. Sự việc đã xảy ra suốt dòng lịch sử, khi người Việt trên con đường nam tiến tới đâu cũng tận tình bảo quản những di tích lịch sử của người Chiêm để lại, đồng thời hòa đồng với họ khi đã sống lẫn lộn, tôn trọng tôn giáo riêng tư của kẻ khác, cho nên nói người Chiêm sau khi mất nước phải hòa đồng vào dân tộc VN là đúng, nhưng bảo người Việt đã diệt chủng và đồng hóa Chiêm Thành như đã xảy ra dưới thời vua Minh Mạng là một bịa đặt không ai tin được.

 

Câu hỏi cuối cùng được đặt ra, là tại sao hơn ba thế kỷ tiến hóa, tính từ niên lịch 1693 tới ngày nay, nhân số trong cộng đồng sắc tộc Chàm vẫn không thấy gia tăng quá con số 100.000 người, nếu so với người Minh Hương, Khmer hay cả với các sắc dân thiểu số cao nguyên? Khó có thể giải thích vì người Chàm dù bị vong quốc, họ vẫn tiếp tục sống với lối khép kín bao đời, theo bản làng thị tộc.

 

Ngoài ra các giới lãnh đạo cộng đồng Chàm vẫn còn đầu óc phân chia giai cấp, nại lý do bảo tồn văn hóa truyền thống thị tộc, nghiêm cấm đồng bào mình hướng ngoại và kết hôn với các thị tộc Chàm khác, dù đều là người Chiêm Thành. Nay có dịp nghe lại ca sĩ Chế Linh hát “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên mới biết rõ vì sao, rừng hoang vu vùi lấp bao uất hận căm thù, núi trầm cô tịch, đèo cao thác sâu, ngàn muôn tiếng ngân, âm thầm hoà bài hận vong quốc ca.

 

Từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự thù hận giữa hai dân tộc Chiêm-Việt vẫn còn ẩn ức nơi hồn một thiểu số, vì chính những người này đã không biết tại sao mình phải suy tàn. Tóm lại Chiêm Thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc nam tiến của Đại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp.

 

Sự đụng chạm nếu có trong quá khứ, chẳng qua vì cá nhân trong lúc cùng sống lẫn lộn, hay trường hợp vua Minh Mạng đối xử gay gắt với cá nhân những người Chàm tại Bình Thuận, có liên hệ tới cuộc phản loạn của Lê văn Khôi năm 1851 tại thành Gia Định, đều là vấn đề ngoại lệ của lịch sử.

 

Ngày nay Chiêm Việt hòa đồng, đồng bào Chàm chỉ mất có triều đình nhưng giữ lại gần như đầy đủ các công trình sáng tạo tại các đền, chùa, thánh tích nổi tiếng của dân tộc mình ở điện Ngọc Trản (Huế), thánh tích Mỹ Sơn, Đồng Dương, Tháp Bà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

 

Sau rốt nền văn minh Chiêm Thành vẫn tồn tại qua mọi lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, kể cả tín ngưỡng của người Việt Trung Phần, đó không phải là một hãnh diện hay sao? Thời VNCH (1955-1975), chính phủ có một bộ phát triển sắc tộc, dành riêng cho các sắc dân thiểu số trong đó có người Chàm.

 

Ngay từ thời Pháp thuộc, vua Bảo Đại có ban hành bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật, nhưng vẫn cố tránh làm đảo lộn nếp sống cổ truyền của đồng bào thiểu số, trong đó có người Chàm, nên đả ban hành thêm đạo luật số 51 ngày 25-5-1943 với đặc ân cho người thiểu số, trong đó có Chàm khỏi thi hành.

 

Vì vậy cho nên với pháp luật thời đó, chỉ áp dụng luật Chàm để xử họ và tôn trọng chế độ mẫu hệ bao đời.

 

Mạnh được yếu thua xưa nay là một qui luật của cuộc đời, mà bất cứ quốc gia hay dân tộc nào trên trái đất cũng đều chịu chung số phận. Đại Việt cũng vậy, hơn một ngàn năm từ thế kỷ 1 Sau Tây Lịch tới gần giữa Thế kỷ X, chỉ vì yếu kém nên đã phải sống cảnh vong quốc lầm than, dưới ách nô lệ cùm gông của người Tàu. Nắm 939 Ngô Vương Quyền Đại Đế đã đánh đuổi giặc Nam Hán ra khỏi bờ cỏi Hồng Lạc và mở đầu, nền tự cường độc lập của VN, qua các thời đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn.

 

Đó là sự may mắn của dân tộc Việt. Nếu không liệu chúng ta có thể tồn tại hay đã bị diệt chủng? chứ đừng nói tới di tích, văn hóa hay bất cứ thứ gì… có được trên mặt đất, khi bị ngoại bang chinh phục.

Thật sự là vậy đó -/- (????)

Tháng 8-2006
Mường Giang

=========================

The image “https://i1.wp.com/upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8c/ChampaMap.png” cannot be displayed, because it contains errors.

LãnhThổ Chiêm Thành thế kỷ 11

 

Chiêm Thành
Lịch sử Chăm Pa

 

9 phản hồi

  1. Một giọng văn tự cao – tự đại – ta đây nhưng thật mơ hồ và ko chính xác về thời điểm lịch sử. Thật đáng tiếc cho một nhà gì gì đó khi viết lách về một vấn đề mà chỉ biết viết theo cái đầu mình suy nghĩ ra sao. Thật ko quá xa với định nghĩa Viết Lách!

    Tôi nói ra đây ít thôi cũng đủ để cho Tgiả phải suy nghĩ lại, à mà ko cần nghĩ nhiều, hãy đọc kỹ lại bài viết của mình và, thật từ từ, đừng nóng vội như bản tính cố hữu của mình, xem lại coi nào, chỗ nào cần sửa lại hay cần thiết ko nên nói ra khi mà ngay chính tác giả cũng chỉ là nghe qua. Ko uổng công đâu, rất nhiều, rất nhiều. Cố gắng nhé!

    God bless u (^.^)

  2. Chào bạn Alo Ola!!

    Không hiểu dòng comment trên của bạn là đang nói đến tác giả của bài viết hay nói với tôi ???

    Nhưng chắc có lẽ bạn đang nói tới tác giả của bài viết mà tôi đã
    sưu tầm ở trên !?

    Theo cái cách bạn comment tôi nghĩ chắc bạn khá am tường về lịch sử, và nhất là về vấn đề trong bài viết này. Vậy bạn có thể giới thiệu một vài bài viết hoặc một vài đường links nào đó về vấn đề này cho tôi tham khảo được không ?? vì bài viết này do tôi sưu tầm được nhưng vẫn còn một vài nghi vấn cho nên tôi đã cố tình để các dấu “????” vào tiêu đề của bài viết.
    Thân chào.

  3. Bình Định vốn đất cũ của Chiêm thành.
    Theo sách “Đồ Bàn ký” của Hoàng giáp Nguyễn văn Hiển, triều Minh Mạng thì sau khi bị vua Lê Đại Hành đánh lấy thành Địa Rí (982), vua Chiêm thành là Xá Lợi Đà Ngô Nhật Hoán chạy vào đây đóng đô mới đặt tên là Đồ Bàn (địa danh trước đó là gì không rõ). Nhật Hoán hiệu là Đồ Bàn (Chô Pan) nên lấy hiệu mà đặt tên cho thủ đô.
    Từ dời đô vào Đồ Bàn, nhờ sông núi hiểm trở, thành trì vững chắc, người Chiêm thành đã ngăn được bước tiến của quân xâm lăng và giữ nước được gần 5 thế kỷ.
    Năm Giáp Thân (1284), quân Chiêm thành đã đánh lui 10 vạn hùng binh của nhà Nguyên do Toa Đô thống lĩnh và kéo từ Trung quốc theo đường thủy vào cửa Thị nại.
    Năm bính Thìn (1376), vua Trần Huệ Tông cử 12 vạn quân, vừa thủy vừa bộ, vào đánh Đồ Bàn. Chế Bồng Nga làm cừ sắt ngoài thành, bày kế dụ địch giết được vua nhà Trần và đánh tan rã cả quân thủy bộ.
    Năm Quý Mùi (1403), Hồ Hán Thương sai tướng đem 20 vạn quân với chiến cụ đầy đủ, vào nỗ lực vây đánh thành Đồ Bàn ngót hai tháng trời, nhưng rốt cuộc bị người Chiêm phản công kịch liệt, phải rút quân về nước.
    Đó là những thời oanh liệt của người Chiêm thành nói chung và của đất Đồ Bàn nói riêng.
    Nhưng đến năm Canh Thìn (1470), vua Chiêm thành là Trà Toàn đem quân ra đánh phá Hóa châu, vua Lê Thánh Tông phải cầm quân đi đánh dẹp, Trà Toàn đại bại rút quân về giữ Đồ Bàn. Vua Lê Thánh Tông thừa thắng đuổi đánh, quân Chiêm chống không nổị Trà Toàn bị bắt và đất Đồ Bàn bị quân ta chiếm cứ. Vua Lê Thánh Tông cho sát nhập vào Đạo Quảng nam phần đất của Chiêm thành mới đánh lấy được, và đặt tên phần đất mới này là Phủ Hoài nhơn với ba huyện trực thuộc là Bồng sơn, Phù ly và Tuy viễn. Phủ lỵ đóng tại thành Đồ Bàn.
    Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Aát Tỵ (1605), chúa Tiên Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài nhơn ra Qui nhơn, đặt quan Tuần vũ cai trị ( vẫn thuộc Đạo Quảng nam như dưới thời nhà Lê).
    Thời chúa Nguyễn Phúc Tần, năm Tân Mão (1651), Phủ Qui nhơn đổi ra Phủ Qui ninh. Sang đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, năm Tân Dậu (1741) lấy lại tên Qui nhơn.
    Năm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, hiệu Võ vương, sửa đổi việc nội trị. Các Đạo đổi ra Dinh, các Phủ vẫn giữ tình trạng cũ. Phủ Qui nhơn vẫn thuộc dinh Quảng nam, và phủ lỵ dời ra phía bắc thành Đồ Bàn, tại thôn Châu thành (nay là xã Nhơn thành, quận An nhơn).
    Võ vương mất (1765), Nguyễn Phúc Thuần kế vị lấy hiệu Định vương. Định vương còn nhỏ, gian thần Trương Phúc Loan nắm quyền bính và lộng hành, nước sanh loạn lạc, nhân dân đồ thán.
    Để dẹp loạn cứu dân, năm Tân Mão (1771), ba vị anh hùng đất Tây Sơn (huyện Tuy viễn) dấy nghĩa binh đánh nhà Nguyễn, nhân dân nức lòng hưởng ứng, khí thế rất mạnh. Tuần vũ Qui nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên không chống nổi, bỏ thành chạy ra Phú xuân. Nghĩa binh lấy Qui nhơn làm căn cứ, rồi đánh vào Nam, đánh ra Bắc, dựng nên cơ nghiệp nhà Tây Sơn.
    Năm Bính Thân (1776), Nguyễn Nhạc xưng vương, hiệu Thái Đức, lấy Qui nhơn làm kinh đô, sửa sang lại thành Đồ bàn làm Hoàng đế thành (tục gọi Đế Kinh). Thành Đồ Bàn dân gian gọi là Thành cũ, nằm trên dãy gò sỏi bao trùm hai thôn Nam Tân và Bắc Thuận, nay thuộc xã Nhơn hậu, quận An nhơn. Thành do vua Chiêm thành Ngô Nhật Hoán xây vào thế kỷ thứ X. Tường bằng gạch và đá ong, mặt hướng về Nam, có 4 cửa, chu vi hơn mười dặm, kiến trúc kiên cố. Bên trong có dựng tháp làm Bảo chướng, bên ngoài có dãy đồi Kim sơn làm cánh che cửa Tây, núi Long cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậụ Khắp bốn mặt, ngoài xa xa, núi trùng điệp, sông quanh co, biển bát ngát. Vua Thái đức cho mở thêm thành Đồ Bàn về mặt Đông, chu vi mới là 15 dặm, mở thêm một cửa mới gọi là Tân môn, cửa phía Nam cũ gọi là Nam môn. Phía tây đắp Đàn Nam giao để tế trời đất. Phía trong thành còn xây thêm một lớp thành nữa gọi là Tử thành.
    Trong Tử thành, chính giữa dựng Điện Bát giác là nơi vua ngự. Phía sau dựng Điện Chánh tẩm, phía trước dựng lầu Bát giác. Bên tả, bên hữu dựng hai Tự đường, một thờ cha mẹ ruột, một thờ cha mẹ vợ của nhà vuạ Trước lầu Bát giác có cung Quyển Bồng, hai bên chái làm nơi thị sự. Ngay trước mặt cung Quyển Bồng và liền với mặt Nam Tử thành, có cửa Tam quan gọi là Quyển Bồng môn, xây cổ lầu, nên cũng gọi là Nam Môn lầụ Trong thành và ngoài thành bày trí la liệt những tượng đá, nào voi, nào nghê, nào nhạc công, nào vũ nữ, là những di tích di vật của người Chiêm thành. Thành lúc bấy giờ thật là nguy nga tráng lệ! Đất Qui nhơn trở thành nơi phồn thịnh, nông nghiệp và thương nghiệp phát triển, nhân dân an cư lạc nghiệp.
    Sau khi Nguyễn Phúc Ánh nhờ ngoại nhân giúp sức lấy lại được đất Gia định rồi thì Qui nhơn cũng như các nơi khác ở Bắc, Nam trở thành bãi chiến trường.
    Năm Nhâm Tý (1792), Nguyễn Phúc Ánh sai Nguyễn văn Thành, Nguyễn văn Trương cùng hai tướng Pháp là Dayot và Vanier (tục gọi là Nguyễn văn Phấn, Nguyễn văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần giờ ra đánh Qui nhơn. Thuỷ quân của Nguyễn Pjúc Ánh đến Thị nại bị quân Tây sơn đánh luị Năm sau, Nguyễn Phúc Ánh thân chinh, điều động thủy binh, bộ binh tiến quân một lượt. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc chống không nổi, rút quân vào thành Qui nhơn (Đồ Bàn) cố thủ. Quân Nguyễn bao vây, công kích. Vua Thái Đức sai tướng mở đường máu chạy ra Phú xuân cầu cứụ Lúc bấy giờ vua Quang Trung đã mất, vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sai Phạm Công Hưng, Nguyễn văn Huấn, Lê Trung và Ngô văn Sở điều 17000 quân binh cùng 80 chiến tượng đi đường bộ và 30 chiến thuyền đi đường biển vào cứu Qui nhơn. Nguyễn Phúc Ánh thấy khí thế viện binh hùng hậu, liệu không chống nổi bèn rút khỏi Qui nhơn.
    Không đánh mà thắng, Phạm công Hưng cùng các tướng kéo quân vào thành Qui nhơn, chiếm giữ thành trì và tịch biên tất cả kho tàng. Vua Thái Đức thấy vậy, tức giận thổ huyết mà thác. Được tin, vua Cảnh Thịnh phong cho con vua Thái Đức là Nguyễn Bảo làm Hiến công, ăn lộc một huyện, gọi là Tiểu Triều, và để Lê Trung cùng Nguyễn văn Huấn ở lại giữ thành. Từ ấy, tức năm Đinh Sửu (1793), Qui nhơn không còn là kinh đô nữạ Và cũng từ ấy, khí thế nhà Tây Sơn mỗi ngày một suy yếu, nhân dân địa phương bị khốn khổ vì giặc giã và nạn tham quan ô lạị Nội bộ Tây Sơn lại lục đục, phân hóa, giết hại lẫn nhaụ..!
    Dò biết được tình thế, năm Đinh Tỵ (1797), Nguyễn Phúc Ánh cùng Hoàng tử Cảnh kéo binh thuyền ra đánh Qui nhơn. Tướng Tây sơn biết tin, phòng bị trước, Nguyễn Phúc Ánh liệu đánh không lợi nên rút quân về Gia định đợi thời cơ.
    Qua năm Kỷ Mùi (1799), khoảng cuối xuân đầu hạ, Nguyễn Phúc Ánh lại cử binh ra đánh Qui nhơn. Bị đánh cả hai mặt thủy, bộ, quân Tây Sơn bị thua phải rút quân vào thành cố thủ. Phú xuân hay tin cho binh vào cứu, song viện binh bị quân nhà Nguyễn chận đánh ở Quảng ngãi, không đến Qui nhơn đuợc. Tướng giữ thành Qui nhơn là Lê văn Thanh vì lương thảo cạn, liệu không chống giữ nổi, phải mở cửa thành đầu hàng.
    Nguyễn Phúc Ánh đem quân vào thành, phủ dụ nhân dân rồi đổi tên Qui nhơn ra Bình định (tháng 5 năm Kỷ Mùi 1799), xong rút quân về Gia định để Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại giữ thành Bình định.

    “Trích sưu khảo của Bùi Phong Khê”

  4. @buom: Rất cám ơn vì một vài thông tin quí báu của bạn. Thankz

  5. ko biêt gì thì dung noi nghe .tac giả dau tiên ấy.

  6. neu thay ko thoa dang thi cu lien he theo dia chi tren

  7. [i]”Người Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất giấy.”

    >> Sao lại ko có tác phẩm sử học? Ông Mường Giang có đọc qua “Sử Lược Hoàng Gia Panduranga Champa” chưa? Đấy là triều đại cuối cùng của Champa cho nên còn có chút ít truyền lại đến ngày nay. Các triều đại phong kiến của mỗi quốc gia mỗi lần đi xâm chiếm lân bang, nếu thành công họ đều đốt thành tro bụi tất cả . Nói chung cho các cuộc xâm lược, Champa hay Đại Việt cũng ko phải là ngoại lệ.
    Sao lại ko có các cuộc thi tuyển nhân tài? Nếu vậy họ lấy đâu ra các nghệ nhân xây tháp, tạc tượng? Mỗi quốc gia có 1 cách thi tuyển riêng biệt thời xưa. Ông tác giả ko có tư liệu ko nên khẳng định chung chung như thế được.
    [i]
    “Do trên ta có thể khẳng định là các bộ tộc sinh sống trên cao nguyên, trong đó có người Churu, Roglai, Rhadé và Jara. Tuy cùng sử dụng chung ngôn ngữ Malayo-Polynésien với người Chàm nhưng luôn luôn tự trị, chống đối Chiêm Thành, kể cả ba thế kỷ bị đô hộ.”[/i]

    >> Ko thể nói rằng các sắc tộc khác, nhất là các sắc tộc trên Tây Nguyên bị đô hộ bởi người Chàm, từ này chỉ nên dùng khi 1 ngoại bang xâm chiếm 1 đất nước. Tôi chưa thấy họ chống đối triều đình, có chăng thì cũng vì 1 ông Vua nhu nhược. Cuộc nổi dậy của họ (nếu có) cũng nên so sánh với n~ cuộc khởi nghĩa của n~ bậc vĩ nhân ngoài triều tộc bên Đại Việt mới đúng.
    Họ rất trung thành với triều đình trung ương và khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng đứng ra bên cạnh các tướng lĩnh để cứu nước, tác giả có thể xem lại sử liệu vào khoảng cuối thể kỷ XII đầu XIII và 2 năm 1931-1932 sẽ thấy rõ. Tôi muốn nhắc lại rằng, vua chúa Champa ko phải chỉ có riêng mỗi người Chàm, vua Po Rome (1627-1651) là một minh chứng rõ ràng nhất cho điều này!
    [i]
    “Qua dòng lịch sử nước nhà, hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói tới sự tàn ác dã man của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm. Sự việc đã xảy ra suốt dòng lịch sử, khi người Việt trên con đường nam tiến tới đâu cũng tận tình bảo quản những di tích lịch sử của người Chiêm để lại, đồng thời hòa đồng với họ khi đã sống lẫn lộn, tôn trọng tôn giáo riêng tư của kẻ khác, cho nên nói người Chiêm sau khi mất nước phải hòa đồng vào dân tộc VN là đúng, nhưng bảo người Việt đã diệt chủng và đồng hóa Chiêm Thành như đã xảy ra dưới thời vua Minh Mạng là một bịa đặt không ai tin được”
    “Sự đụng chạm nếu có trong quá khứ, chẳng qua vì cá nhân trong lúc cùng sống lẫn lộn, hay trường hợp vua Minh Mạng đối xử gay gắt với cá nhân những người Chàm tại Bình Thuận, có liên hệ tới cuộc phản loạn của Lê văn Khôi năm 1851 tại thành Gia Định, đều là vấn đề ngoại lệ của lịch sử.”[/i]

    >> 1 Cách nói bênh vực. Nếu nói về chính sách thì tôi ko dám, nhưng nói về dã man thì có thể. Năm 1470, sau khi làm chủ đc thành Đồ Bàn, vua Lê Thánh Tông đã làm gì với số tù binh của Champa? Đọc lich sử của Việt Nam thấy nhan nhản kia mà, trong n~ sách được dạy và tham khảo cho n~ sinh viên Sử học trong nước ấy. Và còn thời Minh Mạng nữa, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa năm 1932 do Ja Thak Wa lãnh đạo, ông Vua này đã làm gì?
    [i]
    “Thay vì dùng nguồn lợi của quốc gia để lo cho đời sống dân chúng, cải tiến nhân sinh xã hội, đem nền văn minh văn hiến của dân tộc thu nhập, phổ biến, giáo dục cho mọi người, mọi thế hệ để họ cùng mở mang kiên thức, thăng tiến trong dòng văn minh lịch sử nhân loại để ai cũng có quyền lợi hưởng và nhận chịu trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, cần tới.
    Nhưng Chiêm Thành thì hoàn toàn đi ngược lại, tiền bạc chỉ dùng để xây kinh đô, thánh địa, mua sắm quân cụ vũ khí để đánh nhau. Bắt dân đi lính không phải để bảo vệ tổ quốc, mà là giúp vương triều mở rộng lãnh thổ, thu chiến lợi phẩm cùng tù binh, tạo thêm ưu thế cho tộc đẳng đương quyền”[/i]

    >> Ko hiểu nổi. Ông tác giả lấy tư liệu ở đâu để nói thế?
    [i]
    “Nói chung theo sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa, suốt dòng lịch sử luôn tấn công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không còn lựa chọn nào hơn là phải chống lại để tự vệ và giữ nước.”[/i]

    “Nói theo kinh Phật, thì tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng nuôi hận thù trong tâm nên thường đem quân khi thì đường bộ, lúc dùng thuyền bè, tấn công hết nước này tới xứ khác, và ngược lại họ cũng phải bị nạn nhân trả thù, chống chọi để giữ mạng, giữ nước.”[/i]

    >> Chiến tranh xảy ra giữa Đại Việt và Champa xảy ra liên miên trong lịch sử bất đầu từ 1 sự kiện nào? Ông Mường Giang ko thể nói chung chung được. Ai là nạn nhân và ai là kẻ hiếu chiến?
    Tôi chưa thấy cái gì gọi là “nhân quả, thiện ác nhãn tiền” cả. Champa đem quân đi tấn công nước này xứ nọ vì lý do gì? Nhất là đối với Đại Việt
    [i]
    “Cũng phải nói tới thể diện con người, ta biết người Chàm theo chế độ mẫu hệ, quyền hạn trong gia đình đều do phụ nữ chi phối và nắm giữ, người đàn ông luôn cảm thấy mình mất tự do. Ngoài xã hội, tuyệt đại dân chúng thuộc giai cấp tiện dân, bị áp bức bóc lột. Nên gặp lúc được tự do, ho đã dễ dàng hướng ngoại, làm cho đất nước càng lúc càng thiếu nhân lực.”[/i]

    >> 1 cảm nhận (ko phải đánh giá trong nghiên cứu) sai lệch và khập khiễng về chế độ Mẫu hệ.
    [i]
    “Trong nước lúc nào cũng có chiến tranh, đất ruộng vườn tược giao phó cho đàn bà và những người lớn tuổi nên họ làm sao kham nổi, bởi vậy lãnh thổ hầu hết như bị bỏ hoang. Ngân sách, tài nguyên đều dùng để xây cất cung điện, thánh tích và quân sự.

    Những lần thắng trận thì lấy chiến lợi phẩm đã cướp để bù đắp hoặc tổ chức những đám cướp biển. Nhu cầu này cũng cạn kiện dần mòn khi đế quốc Hồi giáo hùng mạnh, khống chế toàn bộ con đường tơ lụa trên Ấn Độ Dương và biển Đông, đã bị các nước phương tây làm sụp đổ. Từ đó quyền lợi kiếm được từ nguồn hải khấu của Chiêm Thành cũng chấm dứt, vì thuyền nước này nhỏ bé, vũ khí lại thô sơ, làm sao chọi nổi với thương thuyền to chắc của Bồ, Y Pha Nho, Pháp, Anh Cát Lợi, Hòa Lan… có trang bị hỏa lực hùng hậu.”[/i]

    >> Nói vậy chắc Champa sống đc là nhờ cướp biển chăng? Đàn bà và người lớn tuổi thì làm ruộng vườn, đàn ông trai tráng chỉ biết đi lầu xanh và làm lính thôi chăng? Sao ông tác giả lại khẳng định 1 điều mơ hồ vô căn cứ như thế?
    [i]
    “Nói chung nội bộ nước Chiêm Thành luôn luôn ẩn chứa những mầm phản loạn, và vì vậy khi vua chúa nào bị thua trận hay thất sủng là bị quyền thẩn giết ngay để dành ngai vua và đất nước, kể cả vị vua anh hùng nhất của nước này là Chế Bồng Nga, cũng không được ngoại lệ. Tình trạng mạnh được yếu thua này rất phổ quát trong thời phong kiến và quân chủ, ngay tại Trung quốc và Đại Việt cũng từng có nhưng chỉ là họa hoằn, chứ không gần như là cơm bữa tại quốc gia này.”[/i]

    >> Đúng thế, thời phong kiến và quân chủ luôn xảy ra tình trạng dành ngai vàng. Nhưng xin hỏi lại tác giả thế nào là trong hoạ hoằn và cơm bữa? Lại 1 cách nói theo cảm giác chăng?
    [i]
    “Từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự thù hận giữa hai dân tộc Chiêm-Việt vẫn còn ẩn ức nơi hồn một thiểu số, vì chính những người này đã không biết tại sao mình phải suy tàn. Tóm lại Chiêm Thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc nam tiến của Đại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp.”[/i]

    >> Hay thật. 1 kết luận ngẫu cảm mới đúng!

    *****

    Và còn nhiều n~ điều sai lệch cũng như viết theo ngẫu hứng nữa xuyên suốt trong bài viết trên.

    Theo tôi được biết, Mường Giang là tác giả của nhiều quyển sách mang tính lịch sử và đc xuất bản bên Hải ngoại. Ông ko thể viết 1 bài về sự tồn vong của 1 quốc gia mà theo cảm nhận bản thân ông mà thiếu đi dẫn chứng lịch sử khách quan được. Đó là điều ko thể chấp nhận.

    “Chiêm Thành Tự Làm Vong Quốc” nên làm 1 bài comment còn hơn là 1 title hay 1 subject.

    Mr L0ng3ta thông cảm cho tôi vì 1 năm nay mới ghé lại Blog của ông. Ông “là người rất yêu chuộng sự thật, muốn làm rõ trắng đen” nên bài sưu tầm của ông đã để “(???)”. Và vì vậy, 1 bài viết ko có chứng dẫn từ 1 nguồn tư liệu đã được công nhận như bài viết trên của tác giả Mường Giang, tôi nghĩ đối với ông nó không đáng 1 xu để chú ý!

  8. Ko hiểu ý của bác Hoi ở trên cho lắm.

    Chúc ông Mr L0ng3ta sức khoẻ và sự thành đạt!

  9. “Người Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất giấy.”

    >> Sao lại ko có tác phẩm sử học? Ông Mường Giang có đọc qua “Sử Lược Hoàng Gia Panduranga Champa” chưa? Đấy là triều đại cuối cùng của Champa cho nên còn có chút ít truyền lại đến ngày nay. Các triều đại phong kiến của mỗi quốc gia mỗi lần đi xâm chiếm lân bang, nếu thành công họ đều đốt thành tro bụi tất cả . Nói chung cho các cuộc xâm lược, Champa hay Đại Việt cũng ko phải là ngoại lệ.
    Sao lại ko có các cuộc thi tuyển nhân tài? Nếu vậy họ lấy đâu ra các nghệ nhân xây tháp, tạc tượng? Mỗi quốc gia có 1 cách thi tuyển riêng biệt thời xưa. Ông tác giả ko có tư liệu ko nên khẳng định chung chung như thế được.

    “Do trên ta có thể khẳng định là các bộ tộc sinh sống trên cao nguyên, trong đó có người Churu, Roglai, Rhadé và Jara. Tuy cùng sử dụng chung ngôn ngữ Malayo-Polynésien với người Chàm nhưng luôn luôn tự trị, chống đối Chiêm Thành, kể cả ba thế kỷ bị đô hộ.”

    >> Ko thể nói rằng các sắc tộc khác, nhất là các sắc tộc trên Tây Nguyên bị đô hộ bởi người Chàm, từ này chỉ nên dùng khi 1 ngoại bang xâm chiếm 1 đất nước. Tôi chưa thấy họ chống đối triều đình, có chăng thì cũng vì 1 ông Vua nhu nhược. Cuộc nổi dậy của họ (nếu có) cũng nên so sánh với n~ cuộc khởi nghĩa của n~ bậc vĩ nhân ngoài triều tộc bên Đại Việt mới đúng.
    Họ rất trung thành với triều đình trung ương và khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng đứng ra bên cạnh các tướng lĩnh để cứu nước, tác giả có thể xem lại sử liệu vào khoảng cuối thể kỷ XII đầu XIII và 2 năm 1931-1932 sẽ thấy rõ. Tôi muốn nhắc lại rằng, vua chúa Champa ko phải chỉ có riêng mỗi người Chàm, vua Po Rome (1627-1651) là một minh chứng rõ ràng nhất cho điều này!

    “Qua dòng lịch sử nước nhà, hoặc chính do người Việt ghi chép lại, hay từ các sử gia ngoại quốc, hoàn toàn không thấy nói tới sự tàn ác dã man của quân Việt đối với tù binh hay dân chiến nạn như người Chàm. Sự việc đã xảy ra suốt dòng lịch sử, khi người Việt trên con đường nam tiến tới đâu cũng tận tình bảo quản những di tích lịch sử của người Chiêm để lại, đồng thời hòa đồng với họ khi đã sống lẫn lộn, tôn trọng tôn giáo riêng tư của kẻ khác, cho nên nói người Chiêm sau khi mất nước phải hòa đồng vào dân tộc VN là đúng, nhưng bảo người Việt đã diệt chủng và đồng hóa Chiêm Thành như đã xảy ra dưới thời vua Minh Mạng là một bịa đặt không ai tin được”
    “Sự đụng chạm nếu có trong quá khứ, chẳng qua vì cá nhân trong lúc cùng sống lẫn lộn, hay trường hợp vua Minh Mạng đối xử gay gắt với cá nhân những người Chàm tại Bình Thuận, có liên hệ tới cuộc phản loạn của Lê văn Khôi năm 1851 tại thành Gia Định, đều là vấn đề ngoại lệ của lịch sử.”

    >> 1 Cách nói bênh vực. Nếu nói về chính sách thì tôi ko dám, nhưng nói về dã man thì có thể. Năm 1470, sau khi làm chủ đc thành Đồ Bàn, vua Lê Thánh Tông đã làm gì với số tù binh của Champa? Đọc lich sử của Việt Nam thấy nhan nhản kia mà, trong n~ sách được dạy và tham khảo cho n~ sinh viên Sử học trong nước ấy. Và còn thời Minh Mạng nữa, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa năm 1932 do Ja Thak Wa lãnh đạo, ông Vua này đã làm gì?

    “Thay vì dùng nguồn lợi của quốc gia để lo cho đời sống dân chúng, cải tiến nhân sinh xã hội, đem nền văn minh văn hiến của dân tộc thu nhập, phổ biến, giáo dục cho mọi người, mọi thế hệ để họ cùng mở mang kiên thức, thăng tiến trong dòng văn minh lịch sử nhân loại để ai cũng có quyền lợi hưởng và nhận chịu trách nhiệm khi đất nước lâm nguy, cần tới.
    Nhưng Chiêm Thành thì hoàn toàn đi ngược lại, tiền bạc chỉ dùng để xây kinh đô, thánh địa, mua sắm quân cụ vũ khí để đánh nhau. Bắt dân đi lính không phải để bảo vệ tổ quốc, mà là giúp vương triều mở rộng lãnh thổ, thu chiến lợi phẩm cùng tù binh, tạo thêm ưu thế cho tộc đẳng đương quyền”

    >> Ko hiểu nổi. Ông tác giả lấy tư liệu ở đâu để nói thế?

    “Nói chung theo sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa, suốt dòng lịch sử luôn tấn công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không còn lựa chọn nào hơn là phải chống lại để tự vệ và giữ nước.”

    “Nói theo kinh Phật, thì tất cả đều là nhân quả, thiện ác nhãn tiền, người Chàm lúc nào cũng nuôi hận thù trong tâm nên thường đem quân khi thì đường bộ, lúc dùng thuyền bè, tấn công hết nước này tới xứ khác, và ngược lại họ cũng phải bị nạn nhân trả thù, chống chọi để giữ mạng, giữ nước.”

    >> Chiến tranh xảy ra giữa Đại Việt và Champa xảy ra liên miên trong lịch sử bất đầu từ 1 sự kiện nào? Ông Mường Giang ko thể nói chung chung được. Ai là nạn nhân và ai là kẻ hiếu chiến?
    Tôi chưa thấy cái gì gọi là “nhân quả, thiện ác nhãn tiền” cả. Champa đem quân đi tấn công nước này xứ nọ vì lý do gì? Nhất là đối với Đại Việt

    “Cũng phải nói tới thể diện con người, ta biết người Chàm theo chế độ mẫu hệ, quyền hạn trong gia đình đều do phụ nữ chi phối và nắm giữ, người đàn ông luôn cảm thấy mình mất tự do. Ngoài xã hội, tuyệt đại dân chúng thuộc giai cấp tiện dân, bị áp bức bóc lột. Nên gặp lúc được tự do, ho đã dễ dàng hướng ngoại, làm cho đất nước càng lúc càng thiếu nhân lực.”

    >> 1 cảm nhận (ko phải đánh giá trong nghiên cứu) sai lệch và khập khiễng về chế độ Mẫu hệ.

    “Trong nước lúc nào cũng có chiến tranh, đất ruộng vườn tược giao phó cho đàn bà và những người lớn tuổi nên họ làm sao kham nổi, bởi vậy lãnh thổ hầu hết như bị bỏ hoang. Ngân sách, tài nguyên đều dùng để xây cất cung điện, thánh tích và quân sự.

    Những lần thắng trận thì lấy chiến lợi phẩm đã cướp để bù đắp hoặc tổ chức những đám cướp biển. Nhu cầu này cũng cạn kiện dần mòn khi đế quốc Hồi giáo hùng mạnh, khống chế toàn bộ con đường tơ lụa trên Ấn Độ Dương và biển Đông, đã bị các nước phương tây làm sụp đổ. Từ đó quyền lợi kiếm được từ nguồn hải khấu của Chiêm Thành cũng chấm dứt, vì thuyền nước này nhỏ bé, vũ khí lại thô sơ, làm sao chọi nổi với thương thuyền to chắc của Bồ, Y Pha Nho, Pháp, Anh Cát Lợi, Hòa Lan… có trang bị hỏa lực hùng hậu.”

    >> Nói vậy chắc Champa sống đc là nhờ cướp biển chăng? Đàn bà và người lớn tuổi thì làm ruộng vườn, đàn ông trai tráng chỉ biết đi lầu xanh và làm lính thôi chăng? Sao ông tác giả lại khẳng định 1 điều mơ hồ vô căn cứ như thế?

    “Nói chung nội bộ nước Chiêm Thành luôn luôn ẩn chứa những mầm phản loạn, và vì vậy khi vua chúa nào bị thua trận hay thất sủng là bị quyền thẩn giết ngay để dành ngai vua và đất nước, kể cả vị vua anh hùng nhất của nước này là Chế Bồng Nga, cũng không được ngoại lệ. Tình trạng mạnh được yếu thua này rất phổ quát trong thời phong kiến và quân chủ, ngay tại Trung quốc và Đại Việt cũng từng có nhưng chỉ là họa hoằn, chứ không gần như là cơm bữa tại quốc gia này.”

    >> Đúng thế, thời phong kiến và quân chủ luôn xảy ra tình trạng dành ngai vàng. Nhưng xin hỏi lại tác giả thế nào là trong hoạ hoằn và cơm bữa? Lại 1 cách nói theo cảm giác chăng?

    “Từ đó mới thấy đến bây giờ, mà sự thù hận giữa hai dân tộc Chiêm-Việt vẫn còn ẩn ức nơi hồn một thiểu số, vì chính những người này đã không biết tại sao mình phải suy tàn. Tóm lại Chiêm Thành mất nước là do họ tự đạo diễn. Cuộc nam tiến của Đại Việt chẳng qua cũng chỉ là một ngẫu cảm trùng hợp.”

    >> Hay thật. 1 kết luận ngẫu cảm mới đúng!

    *****

    Và còn nhiều n~ điều sai lệch cũng như viết theo ngẫu hứng nữa xuyên suốt trong bài viết trên.

    Theo tôi được biết, Mường Giang là tác giả của nhiều quyển sách mang tính lịch sử và đc xuất bản bên Hải ngoại. Ông ko thể viết 1 bài về sự tồn vong của 1 quốc gia mà theo cảm nhận bản thân ông mà thiếu đi dẫn chứng lịch sử khách quan được. Đó là điều ko thể chấp nhận.

    “Chiêm Thành Tự Làm Vong Quốc” nên làm 1 bài comment còn hơn là 1 title hay 1 subject.

    Mr L0ng3ta thông cảm cho tôi vì 1 năm nay mới ghé lại Blog của ông. Ông “là người rất yêu chuộng sự thật, muốn làm rõ trắng đen” nên bài sưu tầm của ông đã để “(???)”. Và vì vậy, 1 bài viết ko có chứng dẫn từ 1 nguồn tư liệu đã được công nhận như bài viết trên của tác giả Mường Giang, tôi nghĩ đối với ông nó không đáng 1 xu để chú ý!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: